Đi ngoài lúc táo, lúc tháo có lẫn máu – ung thư đại trực tràng

04/10/2014 4:42:38 CH

Theo bác sĩ Nguyễn Chấn Hùng – Chủ tịch hội Ung thư Việt Nam thì cần phải chú ý ngay từ những thay đổi thói quen ở ruột và bàng quang. Với những người trên 40 tuổi, ăn thấy khó tiêu đầy bụng, khi táo bón, khi tiêu chảy, có cả máu lẫn trong phân thì phải nghĩ ngay đến ung thư đại trực tràng (UTĐTT). Kinh nghiệm thực tế của thầy Nho cũng gần như vậy

Thầy Nho nói: “Những dấu hiệu mà bác sĩ Nguyễn Chấn Hùng đưa ra là dấu hiệu chỉ điểm chứ không còn là dấu hiệu cảnh báo nữa, nghĩa là có ung thư rồi đấy, tuy mới chỉ là đầu giai đoạn 1. Dấu hiệu cảnh báo phải là 1 điểm trắng trên da. Có một bệnh nhân ở TP. Hồ Chí Minh, khi thấy có một điểm trắng ở kẽ tay liên đi khám ngay và bác sĩ kết luận là UT ĐTT giai đoạn đầu. Nhưng đốm trắng trên da nếu ở chỗ khuất và kín thì khó phát hiện. Do đó chúng ta cần phải coi hiện tượng đi ngoài lúc táo, lúc tháo co lẫn máu là dấu hiệu UTĐTT.

Nói UTĐTT là cách nói gập. Bách khoa ung thư học viết bệnh ung thư đại tràng riêng và bệnh ung thư trực tràng riêng. Phân biệt như thế là đúng vì đại tràng và trực tràng là 2 bộ phận khác nhau trong cơ thể con người. Đại tràng ở dưới, là phần cuối cùng của ống tiêu hóa. Nó bắt đầu từ đoạn nối trực tràng với đại tràng tới tận rìa hậu môn. Nhưng trong điều trị, các bác sĩ gọi gộp ung thư đại tràng và trực tràng thì thường cso vấn đề ở trwucj tràng.

UTĐTT đứng thứ hai về số người mắc và số người chết ở các nước tiên tiến. Ở các nước nghèo, UTĐTT thấp hơn, ở các nước tiên tiến, chế độ ăn nhiều chất béo chính là nguyên nhân UTĐTT tăng cao. ở Nhật bản, khi người ta thay đổi chế độ ăn truyền thống sang chế độ ăn công nghiệp thì người bị UTĐTT tăng rất cao. ở các nước nghèo, người giàu dễ mắc UTĐTT hơn người nghèo, vì chế độ ăn của họ nhiều đạm và chất béo, lại ít rau và chất xơ.

Rắc rối nhất cửa UTĐTT là hiện tượng xâm lấn. Ung thư gặm hệ thống tiêu hóa của chúng ta theo kiểu tằm ăn lá dâu. Lúc đầu phát hiện bệnh nhân ung thư một phần dạ dày, bác sĩ cắt bỏ phần đó đi. Tế bào ung thư lại gặm sang phần cận kề và lại phải cắt bỏ. Mỗi lần cắt bỏ là một lần phẫu thuật, bệnh nhân bị cắt dạ dày hoàn toàn. Tế bào ung thư lại gặp tiếp xuống phần ruột già và ống hậu môn. Đến lúc này thì các bác sĩ phải đặt cho bệnh nhân một ống hậu môn nhân tạo. Như thế vẫn chưa thoát chết, vì người phải đặt ống hậu môn nhân tạo, tỷ lệ chết rất cao.

UTĐTT có khả năng điều trị khỏi cao và thường điều trị khỏi khi khối u caonf nằm ở ruột. Với Tây y, phẫu thuật là biện pháp đầu tiên và tỷ lệ khỏi bệnh khoảng 50% số bệnh nhân. Nhưng nếu sau phẫu thuật mà bệnh tái phát thì tỷ lệ chết rất cao, khả năng sống sót phụ thuộc vào mức độ xâm lấn củ khối ung thư và sự di căn vào hạch. Khi bị tắc ruột và thủng đại tràng thì khả năng sống sót là rất thấp.

Sau khi phẫu thuật mà bệnh tái phát là do di căn. UTĐTT hay di căn vào gan và hạch. Nếu không chống được di căn thì khả năng chữa khỏi bệnh ung thư là rất thấp. Vì thế tôi đã mất rất nhiều thời gian nghiên cứu bài thuốc chống di căn. Bài thuốc của tôi đã được viện kiểm nghiệm thuốc TW thử nghiệm, nhưng đó là thử nghiệm xem trong thuốc của tôi có độc tính hau không chứ không phải kiểm nghiệm kết luận khả năng chống di căn của bài thuốc. Vì y học hiện đại chưa biết cách chống di căn trong điều trị ung thư nên chư có phương pháp thực nghiệm để kết luận khả năng này trong bài thuốc của tôi.

Tất cả bệnh nhân ung thư đến đây đều được tôi cho uống thuốc chống di căn. Và tôi cho đó là biện pháp   quan trọng nhất. Nếu không chống được di căn thì chẳng khác gì bắt ếch bỏ đĩa, nó nhảy ra khỏi đĩa ngay. Tôi dám khẳng định mình có thể chống được ung thư di căn là dựa vào kết quả điều trị. Bệnh nhân  của tôi, sau khi khỏi bệnh, đi khám lại, các bác sĩ không tìm thấy tế bào ung thư nữa. Có trường hợp bệnh nhân nằm điều trị ở các viện lớn, các bác sĩ kết luận ung thư chưa di căn nhưng điều trị mãi không đỡ. Đây là một bệnh nhân ung thư phổi.

Do điều trị mãi không khỏi, bệnh nhân đó đến lấy thuốc của tôi để uống. Ngày đầu tiên uống, bệnh nhân thấy đau đầu dữ dội. Người nhà bệnh nhân gọi điện, tôi nói tế bào ung thư đã di căn lên não rồi phải đi chụp não ngay. Bệnh nhân đã chụp và thấy ở não có khối u. Tôi nói: “Không phải mổ xẻ gì hết. Cứ tiếp tục uống thuốc, bệnh sẽ thuyên giảm”. Và cuối cùng bệnh nhân đó đã khỏi. Khi uống thuốc chống di căn, bệnh nhân có thể đau thêm chỗ khác. Thí dụ bị UTĐTT, bệnh nhân có thể thấy đau ở gan hoặc hạch nách, đó là do công dụng của thuốc chống di căn. Cùng với việc chống di căn là việc làm mất khối u nghĩa là loại bỏ thế bào ung thư trong cơ thể.

Trở lại bệnh UTĐTT, đối tượng đặc biệt cần chú ý là người từ 45 tuổi trở lên nhất là trường hợp có người trực hệ từng bị UTĐTT. Đây là nhóm người có nguy cơ cao, cần hết sức đề phòng. Nên nhớ rằng, triệu chứng ban đầu của UTĐTT rất dễ nhầm lẫn với viêm loét dạ dày, cũng đau, cũng đầy bụng và nếu loét thì trong phân cũng có máu. Nếu ở tuổi dưới 40 thì những triệu chứng đó có thể là viêm loét dạ dày nhưng trên 40 tuổi và có mối liên quan đến trực hệ với người đã từng bị ung thư thì đây mới là giai đoạn đầu.

Các bác sĩ thường gọi là “giai đoạn có ích”, nghĩa là khả năng điều trị khỏi rất cao. Còn để đến khi tắc ruột và thủng đại tràng mới khám thì đã quá muộn. nên nhớ, UTĐTT di căn chủ yếu bằng đường tĩnh mạch, của vào gan, đôi khi cũng di căn bằng đường bạch huyết. Sau đó có sự lan tỏa vào phổi, hệ xương và não. Xâm lẫn tới hạch thượng đòn bên trái, để đến giai đoạn di căn mới khám và điều trị rất khó khăn. Thường với bệnh nhân ung thư di căn, tôi phải đọc bệnh án, hỏi cặn kẽ người nhà bệnh nhân rất lâu, khoảng 40-60 phút tôi mới quyết định được bài thuốc cho bệnh nhân. Còn với ung thư giai đoạn đầu, chỉ đọc qua bệnh án là quyết định được bài thuốc ngay”.

Nhiều bạn đọc gọi điện đến tòa soạn hỏi thầy Nho có thuốc phòng ung thư không? Câu trả  lời của thầy Nho là không. Việc phòng ung thư chủ yếu là chế độ ăn uống và sinh hoạt. Hơn 90% bệnh nhân ung thư là do nghiện rượu. 95% bệnh nhân ung thư thực quản, vòm họng và phổi là những người nghiện thuốc lá. Ăn nhiều chất béo, ít rau và chất xơ dễ bị UTĐTT. Quan hệ tình dục sớm và bừa bãi có nguy cơ ung thư cổ tử cung cao. Chúng ta tự bảo vệ sức khỏe của mình là chính. Thế giới chưa có vacxin và bất cứ loại thuốc nào phòng được bệnh ung thư.

 

Theo báo Người Giữ Lửa số 51 (30/07/214)
Ý kiến bạn đọc
Gửi ý kiến
   
  
 
 
   
 
Đơn vị tài trợ
Đặt làm trang chủ

Lên đầu